https://jfm.edu.vn/index.php/jfm/issue/feed Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing 2026-07-23T09:38:59+00:00 Phạm Minh Tiến jfm@ufm.edu.vn Open Journal Systems <p>Tạp ch&iacute; Nghi&ecirc;n cứu T&agrave;i ch&iacute;nh - Marketing đ&atilde; được th&agrave;nh lập năm 2010 v&agrave; hoạt động cho đến nay (hơn 15 năm) với mục đ&iacute;ch: i) <em>đ&aacute;p ứng nhu cầu th&ocirc;ng tin định hướng nghi&ecirc;n cứu khoa học v&agrave; đ&agrave;o tạo của Nh&agrave; trường; ii) trở th&agrave;nh diễn đ&agrave;n c&ocirc;ng bố kết quả c&aacute;c c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu khoa học c&ocirc;ng nghệ, những th&agrave;nh tựu, tiến bộ khoa học kỹ thuật về khoa học kinh tế, kinh doanh v&agrave; quản l&yacute; trong nước v&agrave; quốc tế trong v&agrave; ngo&agrave;i nước; iii) trao đổi, phổ biến kinh nghiệm quản l&yacute; v&agrave; tổ chức hoạt động khoa học kinh tế, kinh doanh v&agrave; quản l&yacute; trong nước v&agrave; quốc tế của c&aacute;c nh&agrave; quản l&yacute;, nh&agrave; khoa học trong lĩnh vực kinh tế học, quản trị kinh doanh, thương mại, t&agrave;i ch&iacute;nh - ng&acirc;n h&agrave;ng, kế to&aacute;n &ndash; kiểm to&aacute;n, quản l&yacute; kinh tế, du lịch</em>.</p> <p>Đồng h&agrave;nh g&oacute;p phần với sự ph&aacute;t triển của Trường Đại học T&agrave;i ch&iacute;nh - Marketing trong đ&agrave;o tạo nguồn nh&acirc;n lực, ho&agrave;n thiện cơ cấu tổ chức đảm bảo tinh gọn, chuy&ecirc;n nghiệp, hiện đại v&agrave; hiệu quả theo m&ocirc; h&igrave;nh trường đại học ti&ecirc;n tiến trong kỷ nguy&ecirc;n số v&agrave; trong bối cảnh cuộc C&aacute;ch mạng c&ocirc;ng nghiệp 4.0, Tạp ch&iacute; đ&atilde; v&agrave; đang nổ lực ph&aacute;t triển theo xướng chung. Tạp ch&iacute; đ&atilde; <em>(1) X&acirc;y dựng, ph&aacute;t triển th&agrave;nh c&ocirc;ng Hệ thống phần mềm Tạp ch&iacute; trực tuyến;&nbsp;</em><em>(2) Thực hiện c&ocirc;ng bố mở to&agrave;n bộ b&agrave;i b&aacute;o c&aacute;c số tr&ecirc;n hệ thống website; </em><em>(3) Nhận b&agrave;i, theo d&otilde;i v&agrave; phản biện to&agrave;n th&ocirc;ng qua phầm mềm Tạp ch&iacute; trực tuyến; </em><em>(4) Được cấp m&atilde; định danh số quốc tế DOI 10.52932; </em><em>(5) được Hội đồng Gi&aacute;o sư Nh&agrave; nước c&ocirc;ng nhận t&iacute;nh điểm b&agrave;i b&aacute;o khoa học 0,75 điểm; </em><em>(6) được ph&eacute;p xuất bản 9 số tr&ecirc;n năm (6 số tiếng Việt v&agrave; 3 số tiếng Anh) với </em><em>2 loại h&igrave;nh (in v&agrave; trực tuyến), 4 m&atilde; số ISSN (3030-4296, 3030-430X, 1859-3690, 3030-427X); </em><em>(8) H&igrave;nh thức tr&igrave;nh b&agrave;y được thiết kế lại v&agrave; cải thiện theo chuẩn quốc tế</em><em>.</em></p> <p>B&agrave;i viết đăng tr&ecirc;n Tạp ch&iacute; được phản biện k&iacute;n 2 chiều, hiệu quả, lu&ocirc;n đảm bảo c&aacute;c b&agrave;i b&aacute;o xuất bản đều đạt ti&ecirc;u chuẩn về chất lượng v&agrave; c&oacute; h&agrave;m lượng khoa học cao trong c&aacute;c lĩnh vực T&agrave;i ch&iacute;nh, Marketing v&agrave; c&aacute;c lĩnh vực li&ecirc;n quan. Đ&acirc;y cũng l&agrave; nguồn t&agrave;i liệu tin cậy phục vụ cho nghi&ecirc;n cứu, học tập v&agrave; giảng dạy.</p> <p>Ban Bi&ecirc;n tập tr&acirc;n trọng k&iacute;nh&nbsp;mời&nbsp;Qu&yacute; Nh&agrave; khoa học tham gia gửi&nbsp;b&agrave;i&nbsp;đăng tr&ecirc;n&nbsp;<strong>Tạp ch&iacute; Nghi&ecirc;n cứu T&agrave;i ch&iacute;nh - Marketing</strong>. T&aacute;c giả vui l&ograve;ng định dạng b&agrave;i viết theo <a href="https://jfm.edu.vn/index.php/jfm/about/submissions">chuẩn của Tạp ch&iacute;</a> v&agrave; gửi b&agrave;i về cho Ban bi&ecirc;n tập:<br />B&agrave;i viết tiếng Việt gửi tại <a href="https://jfm.ufm.edu.vn/index.php/jfm/submission">https://jfm.edu.vn/index.php/jfm/submission</a><br />B&agrave;i viết tiếng Anh gửi tại <a href="https://jfm.edu.vn/index.php/jfme/about/submissions">https://jfm.edu.vn/index.php/jfme/about/submissions</a></p> https://jfm.edu.vn/index.php/jfm/article/view/937 Tác động của tham nhũng và chất lượng thể chế đến thu thuế các nước đang phát triển 2025-08-13T01:30:37+00:00 NCS.THS. Nguyễn Ngọc Phong Lan nnplan@ntt.edu.vn Nghiên cứu đánh giá tác động của tham nhũng và chất lượng thể chế đến hiệu quả thu thuế tại 40 quốc gia đang phát triển giai đoạn 2010 - 2022, đồng thời phân tích vai trò tương tác giữa hai yếu tố này. Sử dụng dữ liệu bảng và ước lượng GLS cùng MMQR, kết quả cho thấy, tham nhũng tác động tiêu cực đến tổng thu thuế và thuế thu nhập, trong khi chất lượng thể chế tác động tích cực đến tổng thu thuế nhưng tiêu cực đến thuế thu nhập. Đáng chú ý, biến tương tác giữa hai yếu tố cho kết quả dương, hàm ý hiệu ứng thay thế: chất lượng thể chế tốt làm giảm tác động tiêu cực của tham nhũng. Từ đó, nghiên cứu đề xuất tăng cường kiểm soát tham nhũng thông qua minh bạch tài chính công, nâng cao giám sát, thanh tra và cải thiện chất lượng thể chế nhằm xây dựng nền quản trị minh bạch, hiệu quả và có trách nhiệm giải trình, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế và thúc đẩy công bằng tuân thủ thuế. 2026-06-25T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing https://jfm.edu.vn/index.php/jfm/article/view/763 Các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu gỗ Việt Nam: Phân tích bằng mô hình trọng lực 2025-08-04T07:24:56+00:00 Nguyễn Văn Dũng dungnv@ueh.edu.vn Ths La Bảo Khanh Khanhla.asia@gmail.com Nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam (mã HS 44) sang 10 quốc gia thành viên Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trong giai đoạn 2003–2022, dựa trên khung mô hình trọng lực. Đối tượng nghiên cứu là hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản, Canada, Australia, Mexico, Chile, Malaysia, Singapore, New Zealand, Peru và Brunei. Dữ liệu bảng gồm 200 quan sát (10 quốc gia × 20 năm), phản ánh đặc trưng kết hợp giữa không gian và chuỗi thời gian. Các phương pháp hồi quy được sử dụng gồm OLS, FEM, REM và GLS. Kết quả chỉ ra rằng, dân số nước nhập khẩu, việc tham gia CPTPP và chỉ số hiệu suất logistics (LPI) có tác động tích cực đến kim ngạch xuất khẩu gỗ, trong khi khoảng cách địa lý có ảnh hưởng tiêu cực. Các phát hiện nhấn mạnh vai trò của tự do hóa thương mại trong khuôn khổ hiệp định CPTPP, cũng như tầm quan trọng của hiệu quả logistics trong nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu. Nghiên cứu khuyến nghị cần tận dụng tốt các ưu đãi thuế quan từ hiệp định CPTPP, ưu tiên các thị trường có chỉ số LPI cao và tăng cường đầu tư vào logistics nội địa nhằm thúc đẩy xuất khẩu gỗ. 2026-06-25T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing https://jfm.edu.vn/index.php/jfm/article/view/983 Ảnh hưởng của chỉ số năng lực logistics (LPI) đến xuất khẩu của Việt Nam 2025-09-15T02:16:42+00:00 Nguyễn Thị Thúy Hạnh Hanhntt@uel.edu.vn Vũ Quỳnh Như Nguyễn Trần Thanh Huyền Phạm Tuyết Nhung Lê Nguyễn Minh Thảo Phan Thị Thùy Trang Logistics đóng vai trò cốt lõi trong việc hỗ trợ và thúc đẩy thương mại quốc tế của quốc gia. Nghiên cứu này phân tích tác động của Chỉ số Năng lực Logistics (LPI) đến kim ngạch xuất khẩu dựa trên dữ liệu từ 53 quốc gia đối tác của Việt Nam. Nghiên cứu ứng dụng mô hình trọng lực mở rộng với ba phương pháp hồi quy trên dữ liệu bảng (POLS, FEM, REM). Kết quả cho thấy LPI có tác động tích cực đến xuất khẩu của Việt Nam, trong đó vận tải, hải quan và chất lượng dịch vụ logistics góp phần mạnh vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu. Ngoài ra, quy mô dân số và chỉ số tự do kinh tế của các quốc gia nhập khẩu cũng có tác động tích cực, trong khi khoảng cách địa lý và sức mua tương đương của Việt Nam lại ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị trọng tâm bao gồm tối ưu hóa hệ thống vận tải quốc tế, cải cách thủ tục hải quan, đầu tư hạ tầng logistics, tăng cường hợp tác quốc tế, phát triển hệ thống theo dõi và truy vết và ứng dụng công nghệ số trong vận hành logistics nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam. 2026-06-25T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing https://jfm.edu.vn/index.php/jfm/article/view/964 Hành vi mua hàng qua nền tảng Shopee Live: Vai trò của người dẫn dắt 2025-09-22T06:26:55+00:00 Nguyễn Thị Hoài Thơm 2354010406thom@ou.edu.vn Lê Thị Mỹ Lệ 2354010180le@ou.edu.vn TS Ho Nguyen-Nhu-Y hngny@vnu.edu.vn Trần Yến Hảo 2154013009hao@ou.edu.vn Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đã làm thay đổi đáng kể hành vi tiêu dùng, trong đó hình thức mua sắm thông qua các buổi phát trực tiếp (livestream) trở thành xu hướng phổ biến. Song phần lớn các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào thị trường phát triển, trong khi bằng chứng thực nghiệm tại các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam còn hạn chế. Dựa trên mô hình Kích thích - Chủ thể - Phản ứng (SOR), nghiên cứu này xem xét tác động của chuyên môn, độ tin cậy của người dẫn dắt và lợi ích kinh tế đến sự hài lòng và hành vi mua hàng của người tiêu dùng. Dữ liệu thu thập từ 247 quan sát hợp lệ và phân tích bằng phần mềm SmartPLS 4. Kết quả cho thấy, chuyên môn và độ tin cậy của người dẫn dắt đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao sự hài lòng, từ đó thúc đẩy hành vi mua hàng. Tuy nhiên, một phát hiện đáng chú ý là lợi ích kinh tế không điều tiết mối quan hệ giữa sự hài lòng và hành vi mua hàng. Điều này phản ánh tình trạng bão hòa của khuyến mãi trong bối cảnh livestream. Những phát hiện này góp phần mở rộng mô hình SOR đồng thời đưa ra hàm ý quản trị: doanh nghiệp cần chú trọng vào chất lượng livestream và xây dựng hình ảnh người dẫn chuyên nghiệp thay vì phụ thuộc vào các ưu đãi ngắn hạn. 2026-06-25T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing https://jfm.edu.vn/index.php/jfm/article/view/1200 Tính nhân hóa và sự thích thú trong tương tác với AISA: Động lực hình thành mối quan hệ xã hội một chiều và hệ quả đối với hành vi công dân của khách hàng 2026-05-11T03:29:02+00:00 Mai Phạm Thị Ngọc ngocmai@ufm.edu.vn Mặc dù, mối quan hệ xã hội một chiều (Parasocial Relationship - PSR) với các tác nhân dịch vụ trí tuệ nhân tạo (AISA) ngày càng phổ biến trong mua sắm trực tuyến, cơ chế hình thành PSR và vai trò của mối quan hệ này đối với hành vi công dân của khách hàng vẫn chưa được làm rõ. Dựa trên hai lý thuyết CASA, PSR, nghiên cứu đề xuất tính nhân hóa và sự thích thú trong tương tác là hai tiền đề của PSR. Dữ liệu khảo sát được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả cho thấy cả hai yếu tố đều tác động tích cực đến PSR, trong đó sự thích thú có ảnh hưởng mạnh hơn. Ngoài ra, PSR đóng vai trò trung gian giữa đặc điểm tương tác của AISA và hành vi công dân của khách hàng. Nghiên cứu góp phần mở rộng hiểu biết về PSR trong bối cảnh tương tác giữa con người và AI. 2026-06-03T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing https://jfm.edu.vn/index.php/jfm/article/view/991 Vai trò của chất lượng trải nghiệm trong mối quan hệ động cơ du lịch và ý định trở lại điểm đến của khách du lịch nội địa tại vùng duyên hải phía Đông đồng bằng sông Cửu Long 2025-09-30T04:58:42+00:00 ThS. Phạm Hồng Hải phamhonghai35@gmail.com PGS.TS. Nguyễn Nguyễn Văn Nguyện nguyenvannguyenrdi@tvu.edu.vn Ý định quay lại điểm đến được xem là một yếu tố chính trong nghiên cứu hành vi du khách và quản trị điểm đến du lịch. Trong các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến của du khách, thuộc tính điểm đến được xem là một trong những yếu tố quan trọng. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố động cơ du lịch, chất lượng trải nghiệm và ý định quay lại điểm đến của du khách. Nghiên cứu khảo sát 600 du khách nội địa du lịch tại vùng duyên hải phía Đông vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm bốn tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long và một phần tỉnh Đồng Tháp). Việc khảo sát được tiến hành thông qua bảng câu hỏi có cấu trúc. Mô hình SEM được sử dụng để đánh giá các mối quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy động cơ du lịch kéo, gồm khả năng tiếp cận, chất lượng dịch vụ, văn hóa và điểm tham quan đa dạng, cùng với chất lượng trải nghiệm đều tác động tích cực đến ý định quay lại điểm đến của du khách, trong khi đó chất lượng trải nghiệm đóng vai trò trung gian giữa động cơ du lịch kéo và ý định quay lại của du khách. Nghiên cứu này đánh giá một cách toàn diện tác động của các thuộc tính điểm đến vùng duyên hải phía Đông vùng ĐBSCL đến chất lượng trải nghiệm và ý định quay lại điểm đến của du khách. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến và chất lượng trải nghiệm du khách. 2026-06-25T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing https://jfm.edu.vn/index.php/jfm/article/view/949 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bản thân của sinh viên thông qua vai trò trung gian của động lực tham gia thiện nguyện 2025-10-10T10:29:29+00:00 Trần Thị Huyền Trâm 23124237@student.hcmute.edu.vn TS Nguyễn Thị Thanh Vân vanntt@hcmute.edu.vn Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến động lực tham gia hoạt động thiện nguyện của sinh viên, đồng thời kiểm định vai trò trung gian của động lực này trong mối quan hệ giữa các yếu tố tác động và sự phát triển bản thân. Nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu khảo sát từ 214 sinh viên bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SmartPLS3. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thể hiện giá trị, phát triển sự nghiệp, mối quan hệ xã hội đều có ảnh hưởng tích cực đến động lực tham gia thiện nguyện. Động lực tham gia thiện nguyện cũng tác động tích cực mạnh mẽ đến phát triển bản thân. Ngoài ra, kết quả còn cho thấy, vai trò trung gian có ý nghĩa thống kê của động lực tham gia thiện nguyện trong mối quan hệ giữa thể hiện giá trị, phát triển sự nghiệp, mối quan hệ xã hội và phát triển bản thân. Từ kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị được đề xuất nhằm khuyến khích sinh viên tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện. 2025-12-25T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing https://jfm.edu.vn/index.php/jfm/article/view/994 Khả năng so sánh của báo cáo tài chính: Một đánh giá tài liệu có hệ thống và hướng nghiên cứu tương lai 2025-10-05T14:07:16+00:00 TS. Thương Chu Thị chuthuong@ufm.edu.vn PGS.TS. Trịnh Hiệp Thiện trinhhiepthien@ueh.edu.vn PGS.TS. Nguyễn Xuân Hưng hungnx@ueh.edu.vn Khả năng so sánh của báo cáo tài chính (FSC) là một đặc tính chất lượng nền tảng của thông tin kế toán, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả ra quyết định kinh tế. Nghiên cứu này thực hiện một tổng quan hệ thống các tài liệu học thuật nhằm phân tích toàn diện các khía cạnh xoay quanh FSC, bao gồm vai trò của IFRS, ảnh hưởng của kiểm toán, các nhân tố tác động đến FSC, và tác động ngược lại của FSC đến các kết quả tài chính và kinh tế. Kết quả cho thấy, FSC chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như việc áp dụng IFRS (bắt buộc hoặc tự nguyện), chất lượng kiểm toán, đặc điểm thể chế, cấu trúc sở hữu và mức độ minh bạch của doanh nghiệp. Đồng thời, FSC đóng vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí kiểm toán, nâng cao hiệu quả đầu tư, cải thiện định giá doanh nghiệp và chất lượng thông tin kế toán. Kết quả của nghiên cứu mang đến một cái nhìn toàn diện hơn về khả năng so sánh của báo cáo tài chính. Ngoài ra, nghiên cứu còn đóng góp mới bằng việc hệ thống hóa toàn diện các nghiên cứu trước, xác định khoảng trống hiện tại và gợi mở hướng đi trong tương lai, qua đó cung cấp cơ sở tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp trong thực tiễn. 2025-11-25T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing https://jfm.edu.vn/index.php/jfm/article/view/893 Tác động của công bố ESG đến hiệu suất tài chính: Góc nhìn từ vai trò điều tiết của chất lượng báo cáo tích hợp 2025-09-30T04:21:53+00:00 TS Nguyễn Minh Nhã nguyenminhnha@tgu.edu.vn ThS. Đào ThS. Võ Thị Trúc vtt.dao@ufm.edu.vn ThS. Võ Văn Hiền vovanhien@tgu.edu.vn ThS. Bùi Ngô Minh Dũng minhdungbfb@gmail.com Nghiên cứu này khám phá mối quan hệ giữa công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG), chất lượng báo cáo tích hợp và hiệu quả tài chính tại sáu quốc gia ASEAN từ 2020-2024. Dựa trên lý thuyết các bên liên quan và lý thuyết tính hợp pháp, nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng của 327 công ty niêm yết và áp dụng phân tích hồi quy theo hai bước: (1) phân tích gộp toàn khu vực nhằm kiểm định các giả thuyết tổng quát, và (2) phân tích riêng từng quốc gia để kiểm tra tính không đồng nhất giữa các bối cảnh thể chế. Các mô hình hồi quy OLS, FEM và REM được sử dụng cùng với các kiểm định Durbin, Wu–Hausman và Wooldridge để đảm bảo tính vững của mô hình và kiểm soát khả năng nội sinh. Kết quả cho thấy, bằng chứng hỗn hợp về tác động trực tiếp của công bố ESG đối với hiệu quả tài chính, và chất lượng báo cáo tích hợp có tác động điều tiết tiêu cực đến mối quan hệ giữa công bố thông tin ESG và hiệu quả tài chính, ngụ ý rằng việc kết hợp báo cáo tích hợp chất lượng cao có thể làm giảm tác động tích cực của công bố thông tin ESG. Phân tích theo quốc gia cho thấy, sự khác biệt đáng kể giữa các thị trường ASEAN, phản ánh ảnh hưởng của đặc điểm thể chế và văn hóa riêng từng quốc gia. 2026-06-25T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing https://jfm.edu.vn/index.php/jfm/article/view/1194 Đặc điểm hội đồng quản trị điều tiết mối quan hệ giữa đặc điểm giám đốc điều hành và chất lượng báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết ở Việt Nam 2026-02-09T07:21:25+00:00 Thạc sĩ Trần Thị Nguyệt Nga trannga@ufm.edu.vn Nghiên cứu này tập trung phân tích tác động của đặc điểm Giám đốc điều hành (CEO) đến chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò điều tiết của Hội đồng quản trị (HĐQT) trong mối quan hệ tác động này. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 314 doanh nghiệp niêm yết trong giai đoạn 2013–2023, với tổng cộng 3.454 quan sát. Phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) được sử dụng để xử lý và ước lượng mô hình nghiên cứu. Kết quả thực nghiệm cho thấy, các đặc điểm của CEO có tác động tích cực đến chất lượng BCTC của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, HĐQT thể hiện vai trò điều tiết quan trọng, góp phần làm gia tăng mức độ ảnh hưởng tích cực của CEO đối với chất lượng BCTC. Trên cơ sở các kết quả đạt được, nghiên cứu đề xuất các doanh nghiệp cần chú trọng hoàn thiện quy trình tuyển dụng, đào tạo và phát triển đội ngũ CEO nhằm nâng cao chất lượng BCTC. Đồng thời, HĐQT cần tiếp tục củng cố cơ cấu tổ chức theo hướng tăng cường tính độc lập, kết hợp với việc thiết kế các cơ chế giám sát và khuyến khích phù hợp, qua đó vừa nâng cao hiệu quả hoạt động của CEO, vừa thúc đẩy mục tiêu cải thiện chất lượng BCTC. Những giải pháp này góp phần tăng cường tính minh bạch thông tin và củng cố niềm tin của nhà đầu tư trên thị trường vốn. 2026-06-25T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing https://jfm.edu.vn/index.php/jfm/article/view/960 Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trước, trong và sau đại dịch COVID -19 2025-10-02T01:18:06+00:00 ThS. Huỳnh Thị Thùy Dương huynhthithuyduong@ufm.edu.vn Đại dịch COVID-19 ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ, gây áp lực lên dòng tiền và khả năng duy trì thanh khoản. Do đó, việc xác định nhu cầu vốn lưu động đóng vai trò quan trọng trong các thời kỳ khủng hoảng, giúp các DN duy trì hoạt động và vượt qua khó khăn. Trong bối cảnh đó, mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong các giai đoạn trước, trong và sau đại dịch COVID-19 để giúp các doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định về nhu cầu vốn lưu động hợp lý. Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 20 doanh nghiệp bán lẻ niêm yết với thời gian nghiên cứu từ quý 1 năm 2018 đến quý 4 năm 2023. Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (FGLS - Feasible Generalized Least Squares), kết quả nghiên cứu cho thấy, trong khi khả năng sinh lời và công nghệ có ảnh hưởng tích cực thì đòn bẩy và tỷ lệ tài sản cố định hữu hình có ảnh hưởng tiêu cực đến nhu cầu vốn lưu động trong cả ba giai đoạn. Cơ hội tăng trưởng chỉ có tác động đến nhu cầu vốn lưu động trong giai đoạn trước COVID-19, dòng tiền hoạt động có ảnh hưởng tới nhu cầu vốn lưu động trong giai đoạn xảy ra COVID-19 và giai đoạn hậu COVID-19, quy mô có tác động yếu đến nhu cầu vốn lưu động trong giai đoạn sau COVID-19. Từ đó, các DN cần xem xét các mối quan hệ này trước khi ra các quyết định về nhu cầu vốn lưu động. 2026-04-25T00:00:00+00:00 Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing